gái phải hơi trai như thài lài gặp
Bí Quyết Làm Đẹp Da Cho Phụ Nữ Sau Sinh Bằng Hạt Gấc. Bước 1: Đầu tiên, các chị em nên mua một bình thủy tinh to, tối thiểu là bình 20 lít. Sau đó mua thật nhiều củ gừng già, củ nghệ già và hạt gấc, có thêm hạt gấc da mới đẹp mỡ màng được. Tỉ lệ là 1-1-1, tức
Chương 32: Không phục thì cục gạch hầu. Thấy con hổ dời mắt về phía mình, Phương Lập Hiên sảng khoái lùi về sau vài bước, hắn vô cùng tò mò thực lực của An Tử Lâu, cũng muốn biết, đối mặt với một con hổ biến dị cấp bốn, An Tử Lâu sẽ thắng như thế nào. Trong
Em như cục cức trôi sông/ anh như con chó đói đứng trông trên bờ. Gà què bị chó đuổi. Gà con ta để ta nuôi/đến mai ta gả con chó cụt đuôi cho mày. Gái đâu có gái lạ lùng/nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao. Gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó/ trai phải vợ
Tập Tục Cổ Truyền trong 3 ngày Tết Vinh Hồ Á châu ăn Tết khác Âu Mỹ. Các nước Á Châu ăn Tết cũng khác nhau, Ấn Độ ăn Tết từ tháng Ba, Lào trung tuần tháng Tư, Cao Miên cuối tháng Tư, Giao Thừa rơi vào giữa trưa, các nước này ăn Tết theo Phật lịch, theo ngày Đản Sinh hay Xuất Gia của Đức Phật
Bây giờ gặp mặt biết chừng nào gần em?" Biết bao nhiêu hình ảnh của đời sống được tượng hình nơi quả mướp: "Ngọn lang trắng ngọn vắn ngọn dài Cây thài lài ngả dọc ngả ngang Cây dưa gang sọc đen sọc trắng Quả mướp đắng , trong trắng, ngoài xanh Lòng em ăn ở
[1] Xin mời vào, hân hạnh được đón tiếp. [2] Xin vô cùng cảm ơn bố mẹ đã mời cơm và những gì bố mẹ đã giành cho con tối nay. Con thực sự đánh giá rất cao điều đó. Bố mẹ ạ, con yêu bố mẹ. [3] Chiều chuộng phụ nữ, nịnh đầm. [4] Niềm vui sống. [5] Điều không thể tả được.
musbigbsapppo1975. Tra cứu Từ điển Tiếng Việt - từ thài lài thài lài dt. thực Tên một giống cỏ Gái phải hơi trai, như thài-lài phải cứt chó. . Nguồn tham khảo Từ điển - Lê Văn Đức thài lài - Loài cây nhỏ, lá đôi, có khi có đốm màu, thường trồng để làm Nói dáng hai chân nằm giạng ra Nằm thài lài. Nguồn tham khảo Từ điển mở - Hồ Ngọc Đức thài lài dt. Cây thân cỏ lá hình xoan nhọn, hoa màu xanh lam, thường mọc hoang ở những nơi ẩm ướt Gái gặp hơi trai như thài lài gặp cứt chó tng. thài lài tt. 1. Cách ngồi, nằm giạng hai chân rộng ra nằm thài lài. 2. Dài ngoẵng, thõng thượt dây nhợ thài lài. 3. Bãi, dốc thoai thoải bãi biển thài lài. Nguồn tham khảo Đại Từ điển Tiếng Việt thài lài dt thực Loài cây nhỏ, lá đôi, có đốm màu, thường dùng để làm cảnh Thài lài mọc cạnh bờ sông, Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài cd. Nguồn tham khảo Từ điển - Nguyễn Lân thài lài dt th. Tên một thứ rau Thài-lài mọc cạnh bờ sông, Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài-lài C. d. Nguồn tham khảo Từ điển - Thanh Nghị thài lài Tên một thứ cỏ. Văn-liệu Thài-lài mọc cạnh bờ sông, Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài-lài C-d. Thài-lài, rau rệu, nghé-ngo, Mẹ con nhà khó ăn no lại nằm. Gái phải hơi trai như thài-lài phải cứt chó T-ng. Nguồn tham chiếu Từ điển - Khai Trí * Tham khảo ngữ cảnhĐược một quãng , đến bụi thài lài kín đáo , chúng tôi đứng lại. * Từ đang tra cứu Ý nghĩa của từ, giải nghĩa từ thài lài Vài nét về chữ Nôm, nguồn gốc và sự phát triển Truyện Kiều Ngẫm hay muôn sự tại Trời, Trời kia đã bắt làm người có thân Khái lược Về Văn học Chữ Nôm Ở Việt Nam Cấu tạo và nguồn gốc của chữ Nôm – chữ của dân tộc Việt Nam Sấm Trạng Trình ký bản chữ Nôm
Hoàng Tuấn Công ○ “gái giết chồng, đàn ông ai giết vợ Lời nhận định thiên về đàn ông và có ác ý với phụ nữ”. Dân gian đâu có đặt ra câu tục ngữ này với mục đích “nhận định thiên về đàn ông và có ác ý với phụ nữ”?. Thực tế trong nhiều vụ án giết chồng cho thấy đàn bà ngoại tình thường lập mưu giết chồng để được sống tự do với kẻ gian phu; trong khi đàn ông, theo chế độ “đa thê”, lại có tâm lý thích “năm thê bảy thiếp”, nên thường không nảy sinh ý định giết vợ để sống với người tình. Tham khảo Luật thời Nguyễn Gia Long quy định “Tội thông gian và giết chồng, vợ cả”, tại điều 254 “phàm thê thiếp nhân vì việc thông gian mà đồng mưu với gian phu trong việc giết chết chồng của mình thì bị xử tội lăng trì, gian phu thì bị xử trảm giam hậu.” “Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn”-TS Huỳnh Công Bá-NXB Thuận Hoá. Không thấy luật nói đến trường hợp chồng vì gian dâm với người phụ nữ khác mà giết vợ mình. Điều này không có nghĩa, luật pháp thiên vị, bỏ qua tội trạng của đàn ông, mà chứng tỏ, chuyện đàn ông giết vợ để được sống với người tình, hầu như không xảy ra trong thực tế, nên nhà làm luật đã không có mục quy định về tội này. Từ điển Vũ Dung giải nghĩa cơ bản là đúng “Gái giết chồng, đàn ông ai giết vợ – Phản ánh một thực trạng xã hội thời phong kiến đàn ông được quyền bỏ hoặc lấy nhiều vợ, ngược lại người đàn bà phải chịu nhiều ràng buột khắt khe, muốn tự giải phóng khỏi người chồng không phù hợp, họ thường phải có những hành động tội ác”. ○ “gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó Thài lài là một thứ cây trồng làm cảnh Ý nói Gần người đàn ông, người đàn bà xinh đẹp hơn lên”. Cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đều giảng không chính xác. Thài lài là cây mọc hoang, chứ không phải “thứ cây trồng làm cảnh”. Vì mọc hoang nơi bờ bụi, “đất chó ỉa”, nên thài lài mới “gặp cứt chó”. Cũng bởi là cây hoang dại, lại ưa cứt chó, nên quan niệm dân gian xem thài lài là loài cây thấp kém “Thài lài mọc cạnh bờ sông, Tuy rằng xanh tốt nhưng tông thài lài” ca dao. Giả sử có ai trồng thài lài “làm cảnh”, hẳn cũng không đem “cứt chó” bón cho “cây cảnh” bao giờ. Nguyên câu tục ngữ đầy đủ là Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó, Trai phải hơi gái như cò bợ gặp trời mưa. Phân chó chứa nhiều chất đạm, rất phù hợp với loại cây phát triển thân lá như thài lài nhà nông thường thu gom phân chó để chăm bón cây thuốc lào rất tốt. Thế nên, bình thường, thài lài trông héo hon, chỉ cần một trận mưa nhỏ, “cứt chó” ở bờ cỏ hoang ngấm vào đất, là thài lài tốt bốc lên ngay. Giống như con gái tuổi dậy thì, bước vào tuổi yêu đương, có sự tiếp xúc với trai dù chỉ là về mặt cảm xúc yêu đương, hoặc sau khi lấy chồng, thì lập tức phổng phao trông thấy; Đàn bà con gái được “gần gũi” chồng sau khoảng thời gian xa cách thì khí sắc bỗng tươi tỉnh, mỡ màng, xinh đẹp hẳn lên. Còn “trai phải hơi gái” theo dân gian bị hao tổn tinh khí nên trông như “cò bợ phải trời mưa”. Cách ví von của dân gian vừa sát đúng về nghĩa đen, vừa mang tính hài hước về chuyện yêu đương, chăn gối. Tham khảo Từ điển bách khoa nông nghiệp “Thài lài commelina sp cây thân cỏ mềm, họ Thài lài commelinaceae, phần dưới bò lan, phần trên đứng, bén rễ ở các mấu. Hoa màu xanh lam. Quả nang dẹt. … Phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á. Ở Việt Nam, thài lài mọc ở các nơi ẩm mát, bờ vườn, bờ ruộng, khe suối, thành từng đám. Thài lài được coi như một loại rau xanh cho trâu, bò, lợn”. ○ “già lừa nhỡ lứa Giễu những phụ nữ quá tuổi không lấy được chồng”. Để tránh bạn đọc hiểu lầm, vì “già lừa” [“lừa” người ta nhiều] nên mới ế [“quá tuổi không lấy được chồng”], trường hợp này nên chú giải từ “lừa” để bạn đọc hiểu rõ “Già lừa” chính là “già LỰA” lựa chọn quá kỹ, quá khắt khe, tương tự “già kén”. Mặt khác, tục ngữ không “giễu những người phụ nữ quá tuổi không lấy được chồng”, mà đưa ra kinh nghiệm, lời khuyên kén chọn kỹ quá “già lựa” cuối cùng sẽ hoặc có thể dẫn đến quá lứa, lỡ thì; Không nên kén chọn, đưa ra tiêu chuẩn quá cao mà thành lỡ làng, ế ẩm. Ví dụ, bà cụ nhắc nhở đứa cháu gái đang tuổi kén chồng Già lựa thì lỡ lứa đấy cháu ạ. Đồng nghĩa với câu Già kén kẹn hom [Ca dao “Thôi đừng tính thiệt so hơn, Kẻo ra già kén kẹn hom lỡ làng]. ○ “giàu bán chó, khó bán con Nói lên sự bất công tệ hại của xã hội cũ”. Chính xác phải là Giàu bán LỌ lúa, không phải “giàu bán CHÓ”. Nghĩa là với người giàu có, sung túc, nhiều lương thực thì có lúa bán đi để chi tiêu; nhà nghèo khó, bát ăn chẳng đủ, túng quẫn thì chỉ còn mỗi cách bán đi những đứa con của mình, để bớt gánh nặng khó khăn. [Dị bản Giàu bán ló, khó bán con. “Ló” tiếng Việt cổ có nghĩa là “lúa”]. Tục ngữ Mường “Giàu bán lúa, khó bán con – Giấu biành ló, khò biành con”. ○ “giàu thú quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ Kẻ Chợ là từ cũ chỉ Hà Nội Đây là tư tưởng lệch lạc của một số người coi đời sống ở thành thị hơn ở nông thôn”. Công việc của người biên soạn từ điển là giải thích tại sao thành ngữ, tục ngữ lại nói như vậy, chứ không phải đứng trên quan điểm cá nhân để phê phán, bắt bẻ dân gian. Câu tục ngữ trên phản ánh một quan điểm, một cách nhìn nhận ở quê được tiếng giàu có, sung túc là vậy, nhưng là kiểu giàu có của anh nông dân, tài sản chỉ là chum khoai, bồ lúa, trong khi vẫn phải chân lấm tay bùn; còn ở thành thị, tuy buôn thúng bán mẹt “ngồi lê kẻ chợ” thôi, nhưng thu nhập cao, tiền bạc vẫn nhiều hơn và cuộc sống phong lưu hơn. Tục ngữ Tày “Người chăm chỉ ở trong làng quê không bằng kẻ lười biếng ở thành thị” – Vỏ xẳc giú chang bản bố tấng vỏ dạn chang chu”. Cuối cùng, từ “kẻ chợ” cũng chỉ chung nơi đô thị, đô hội, chứ không chỉ riêng Hà Nội cụ thể là “kẻ chợ” trong câu tục ngữ đang xét. Tham khảo Từ điển Vietlex “kẻ chợ • d. [cũ] nơi đô thị [thường dùng để chỉ kinh đô cũ] dân kẻ chợ ~ ăn nói theo kiểu kẻ chợ”; Từ điển Lê Văn Đức “ kẻ chợ • dt. Chợ, thị-thành, nơi đô-hội Nghĩ em đáng lạng vàng mười, Đem ra kẻ chợ kém người trăm phân CD”; Từ điển Đào Văn Tập “kẻ chợ • xưa Chỗ thành-thị đô-hội dạo cùng kẻ chợ thì quê”; Việt Nam tự điển “kẻ-chợ • Chỗ đô-hội Kẻ-chợ, nhà-quê”. Từ điển Thanh Nghị “kẻ-chợ • dt. Thị-thành Người kẻ-chợ.”; Từ điển Văn Tân “kẻ chợ • d. 1 Kinh đô. 2 Nơi thành thị Người kẻ chợ”. Chính Paul Dumer đã ghi nhận trong Xứ Đông Dương như sau “Các văn bản viết của thế kỷ XVII cho thấy Hà Nội đã từng có tên là Kẻ Chợ phát âm là Ké-Cheu, là cái mà hiện giờ ta thấy ở khắp nơi trên đất nước này và có nghĩa là “chợ lớn”. ○ “giày thừa, dép thiếu Ý nói giày to quá mà dép lại bé quá”. “Ý nói” là vậy, nhưng nghĩa của nó là thế nào? Không lẽ bỗng dưng tục ngữ lại nói “giày to quá mà dép lại bé quá”? Đây là một kinh nghiệm thử giày dép giày thì nên rộng, dài “thừa” ra một chút so với cỡ chân để khi đi không bị “kích”, đau ngón chân [Có câu Đẽo gót cho vừa giày, ý nói phải chọn để có đôi giày vừa chân, chứ không thể làm ngược đời là đẽo bớt gót chân cho vừa với đôi giày mình đi]. Ngược lại, với dép không nên chọn đôi quá rộng, mà phải hơi chật “thiếu” một chút so với bề dài của bàn chân, khi đi sẽ không bị quét lê gót, hoặc thọc đầu ngón chân ra đằng trước, dễ vấp ngã dép rộng quá thì đi sẽ không vững chân. Thế nên Tục ngữ Hán cũng đưa ra lời khuyên “Y bất đại thốn, hài bất tranh ty – 衣不大寸, 鞋不爭絲 – Quần áo không rộng hơn một tấc, giày không được chật hơn”. ○ “gieo gió gặt bão dịch một tục ngữ Pháp Ý nói Tự mình gây điều ác thì phải chịu kết quả của điều ác ấy”. Không có căn cứ nào để nói rằng, “Gieo gió gặt bão” là “dịch một tục ngữ Pháp”. Nếu có giống với tục ngữ Pháp cũng nên cẩn trọng xem xét, bởi trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ của nhân loại, nhiều câu có nghĩa đen và nghĩa bóng giống nhau, nhưng chưa hẳn là vay mượn trực tiếp của nhau. Đây là một câu tục ngữ về luật nhân quả rất phổ biến, với nhiều dị bản đồng nghĩa Gieo gì gặt nấy; Cấy gió, chịu bão; Cấy gió, gặt bão; Gieo vạ nhỏ rước vạ lớn… ○ “giết một con cò, cứu muôn con tép Ý nói Trừ một kẻ tàn ác là cứu được nhiều người”. ○ “giết một con mèo, cứu vạn con chuột Như nghĩa câu trên Nhưng câu này vô lý, vì mèo giết chuột là có ích cho người”. Vì không hiểu ý tứ sâu xa của tục ngữ, đến câu thứ hai, GS Nguyễn Lân đưa ra thắc mắc, cho rằng dân gian nói “vô lý”. Nhưng nếu nói “lý” thì bản đồng nghĩa “Giết một con cò, cứu muôn con tép” cũng “vô lý” không kém. Bởi con cò là vật hiền lành, được ví với hình ảnh người nông dân vất vả, “lặn lội thân cò”, tại sao chỉ vì “tội” bắt tép làm mồi mà giết hại nó? Mà “cứu muôn con tép” để làm gì? “Giết một con cò, cứu muôn con tép” hay “Giết một con mèo, cứu vạn con chuột” [Tục ngữ Hán Sát nhất miêu, cứu vạn thử – 殺一貓救萬鼠 – Giết một con mèo cứu vạn con chuột] có nghĩa bóng là trừ khử được một tên đầu sỏ, ác ôn, chuyên gieo rắc cái chết, thì sẽ cứu được nhiều mạng người. Ví dụ giết một tên bạo chúa, lật đổ một hôn quân thì sẽ cứu được muôn dân. Cũng cần xem xét về nguồn gốc câu tục ngữ. Rất có thể, câu này xuất phát từ quan điểm của đạo Phật, coi chúng sinh bình đẳng, sinh mệnh của mèo hay chuột cũng đều như nhau. Theo đó, đạo Phật kiêng sát sinh giới sát nhưng trường hợp cần thiết cũng được phép sát sinh “Sát nhất nhân, cứu vạn nhân”. “Cò” và “mèo” ở đây mang nghĩa đen là nếu sống cả một đời, chúng “giết” rất nhiều “con tép”, nhiều “con chuột”. Chuyện mèo giết chuột có ích thế nào, lại là chuyện khác, bàn ở chỗ khác. ○ “giữ tiếng chẳng tày giữ miếng Ý nói sợ người chê không bằng cảnh giác đối với địch”. Ở đây không nói đến chuyện “cảnh giác”, “địch” với ta. Trong đời sống, đôi khi người ta vì thể diện, tránh mang tiếng xấu tranh giành quyền lợi vật chất, miếng ăn miếng uống mà đành im lặng chịu thua thiệt trước kẻ khác. Nghĩa bóng Giữ hư danh, thể diện hão chẳng bằng bảo vệ quyền lợi thực tế của mình; Không nên giữ thể diện hão, thích cái hư danh, mà đánh mất quyền lợi thực tế của mình. Đây là một quan điểm sống, một thái độ ứng xử. ○ “ít bột không nặn nhiều bánh Ý nói Phải đầu tư nhiều mới đạt kết quả tốt”. Không đúng. Tục ngữ không nói ít bột thì không nặn được nhiều bánh nên “phải đầu tư nhiều”, mà là ít bột thì không nên nặn nhiều bánh. Nghĩa là có ít thì không nên bày vẽ, “bôi ra” nhiều thứ, kẻo cuối cùng chẳng đâu vào đâu, kết quả không ra gì. Thế nên, Từ điển của Vũ Dung mới giải thích “ít bột không nặn nhiều bánh. Khả năng ít đừng bày ra nhiều”. [sai giống Từ ngữ Hán Việt]. Comments are closed.
Xấu dây tốt củ Xấu dây tốt củ Dị bản Xấu dây mẩy củ Cùng thể loại Ăn xó mó niêu Ăn xó mó niêu Đế quốc Mỹ Tội ác không dung, đồ dùng rất tốt Đế quốc Mỹ Tội ác không dung, đồ dùng rất tốt Nói thả nói ví Nói thả nói ví Làm như khách chìm tàu Làm như khách chìm tàu Chỗ ăn không hết, chỗ thết không khẳm Chỗ ăn không hết, chỗ thết không khẳm Nói vuốt đuôi lươn Nói vuốt đuôi lươn Nói xuôi nghe được nói ngược dễ nghe Nói xuôi nghe được Nói ngược dễ nghe Giòi trong xương giòi ra Giòi trong xương giòi ra Răng đi trước, môi lả lướt theo sau Răng đi trước, môi lả lướt theo sau Người còn ở Cầu Rào, răng đã vào Cầu Đất Người còn ở Cầu Rào, răng đã vào Cầu Đất Có cùng từ khóa Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm Tối ăn khoai đi ngủ, Sáng ăn củ đi làm Dị bản Tối ăn khoai đi ngủ, Sáng ăn củ đi làm, Trưa về ăn khoai lang uống nước Năm ngoái em trồng khoai lang có dây không củ Năm ngoái em trồng khoai lang có dây không củ, Năm nay em trồng khoai lũ có củ quên đào, Em gặp anh đây quên hỏi, quên chào, Anh có thương đừng trách, trách thời đừng thương. Rau lang trổ ngọn hồng hồng Rau lang trổ ngọn hồng hồng Bởi thương tình nghĩa xuôi dòng đến đây Tôi than với mình hủy hủy hoài hoài Tôi than với mình hủy hủy hoài hoài Biểu em đừng gá nghĩa với ai Để anh gá nghĩa lâu dài với em Cực chẳng đã cha mẹ gả em đã đành Chớ ăn khoai lang chấm muối ngon lành gì đâu Nhất khoai đầu vồng, nhì lấy chồng Khánh Vân Nhất khoai đầu vồng Nhì lấy chồng Khánh Vân Anh tới nhà em ăn cơm với cá Anh tới nhà em ăn cơm với cá Em tới nhà anh ăn rau má, lá lang Khoai lang ngập nước khoai lang sùng Khoai lang ngập nước khoai lang sùng Lấy chồng cán bộ lấy thằng khùng sướng hơn Củ lang nấu lộn củ mì Củ lang nấu lộn củ mì Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh Khoai lang chấm muối ăn bùi Khoai lang chấm muối ăn bùi Lấy chồng thầy thuốc, thơm mùi xạ hương Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó Gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó Trai phải hơi gái, thì mặt tái râu phờ Dị bản Gái gặp hơi trai như khoai gặp hơi cuốc Trai gặp hơi gái đứt ruột còng lưng Niêu Nồi nhỏ bằng đất nung hoặc đồng, có nắp đậy, dùng để nấu nướng hoặc sắc thuốc. Niêu sắc thuốc thì có thêm cái vòi để rót thuốc. Cơm niêu Ăn xó mó niêu Chỉ hạng người hèn mọn, ăn ở chui rúc, bệ rạc. Nói thả nói ví Nói xa nói gần, nói cạnh khóe. Chú khách Một cách gọi người Hoa sống ở Việt Nam. Từ này bắt nguồn từ chữ "khách trú," cũng gọi trại thành cắc chú. Làm như khách chìm tàu Làm xí xô xí xào, làm ra tiếng ồ ào, kêu la inh ỏi, như người Ngô chìm tàu, có nghĩa là làm tâng bầng vỡ lở, dấy tiếng om sòm, rần rần. Đại Nam quấc âm tự vị - Huình Tịnh Của Nói vuốt đuôi lươn Nói gạt nhau; không giữ lời nói. Đại Nam quấc âm tự vị - Huình Tịnh Của Giòi trong xương giòi ra Bà con trong nhà hại nhau. Cầu Rào Một cây cầu bắc qua sông Lạch Tray thuộc Hải Phòng . Cầu được xây dựng lần đầu tiên dưới thời Pháp thuộc, thuộc địa phận làng Rào tên nôm của làng An Khê. Cầu Rào hiện nay Cầu Đất Tên một con phố thuộc trung tâm thành phố Hải Phòng hiện nay. Có tên gọi như vậy vì trước đây có một cây cầu nhỏ bằng tre đắp đất gọi là cầu Đất bắc qua một con lạch tại khu vực này. Khoai lang Một loại cây nông nghiệp với rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, gọi là củ khoai lang. Nhân dân ta trồng và sử dụng khoai lang làm lương thực, tận dụng cả phần củ rễ, thân, và lá. Thu hoạch khoai lang Biểu Bảo phương ngữ Trung và Nam Bộ. Gá nghĩa Kết nghĩa gá nghĩa vợ chồng, gá nghĩa anh em, tiếng miền Nam còn đọc trại thành gá ngãi. Vồng Phần đất được dùng cuốc vun lên cao hơn mặt đất để trồng rau, củ, tương tự nhưng cao hơn líp. Khánh Vân Tên một làng cũ nổi tiếng với nghề thợ hồ, sau sát nhập với làng Thanh Đơn thành làng Thanh Vân, thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Sùng Bị sâu, bị thối. Sùng cũng có nghĩa là sâu. Xạ hương Chất do hươu xạ và một số loại cầy tiết ra, có mùi thơm đặc biệt, thường được khai thác làm hương liệu, nước hoa và các loại dược phẩm. Thài lài Cây thân cỏ, thường mọc hoang ở những nơi đất ẩm, lá hình trái xoan nhọn, hoa màu xanh lam hay tím. Được dùng làm thuốc chữa viêm họng, viêm thận, phù thũng, phong thấp, viêm khớp, rắn cắn... Cây và hoa thài lài trắng
gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó, trai phải hơi gái như cò bợ gặp trời mưa Con gái sau khi lấy chồng hoặc có quan hệ sinh lí với đàn ông sẽ tươi tắn xinh đẹp hơn, còn đàn ông thì bơ phờ, rũ rượi.
gái phải hơi trai như thài lài gặp